Soạn bài Đò Lèn ngắn gọn nhất | Soạn văn 12

Địa lí 10 Bài 1 (Kết nối tri thức): Môn địa lí với định hướng nghề nghiệp | Giải Địa lí 10

Mời các em theo dõi nội dung bài học do thầy cô trường Trung học Bình Chánh biên soạn sẽ giúp các em nắm chắc kiến thức nội dung bài học tốt hơn.

Hướng dẫn soạn bài Đò Lèn Ngữ văn lớp 12 hay, ngắn gọn nhất và đủ ý giúp học sinh dễ dàng nắm được nội dung chính bài Đò Lèn để chuẩn bị bài và soạn văn 12. Mời các bạn đón xem:

Soạn bài Đò Lèn – Ngữ văn 12

A. Soạn bài Đò Lèn ngắn gọn:

Phần đọc – hiểu văn bản

Câu 1 (trang 149 sgk Ngữ văn lớp 12 Tập 1):

* Cái tôi thời tuổi nhỏ của tác giả:

– Cái tôi của tác giả thời thuở nhỏ được tái hiện sống động, đó là cái tôi trong trẻo, hồn nhiên, đầy thích thú với thế giới xung quanh của một cậu bé hiếu động, nghịch ngợm, vô tư:

+ Vui thích với những trò chơi trẻ thơ: bắt chim, trộm nhãn, theo bà đi chợ, câu cá..

+ Say mê thế giới thần tiên: chơi đền Cây Thị, xem lễ đền Sòng, ấn tượng mùi huệ trắng, khói trầm, điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng..

 – Ấn tượng về cuộc sống bình yên vừa có cái riêng tư vừa gần gũi. làng quê

=> Lối kể chân thực, cụ thể như lời ăn tiếng nói hàng ngày thể hiện vẻ đẹp, tính cách ngây thơ của trẻ nhỏ, ký ức không phai mời trong tâm trí nhà thơ.

– Nét quen thuộc và mới mẻ trong cách nhìn của tác giả về chính mình:

+ Nét quen thuộc: trân trọng những kỉ niệm đẹp thời thơ ấu, yêu quý quê hương nguồn cội, tiếc nhớ người bà kính yêu.

+ Nét mới mẻ: cái nhìn tự vấn, tự soi chiếu lại sự vô tâm của bản thân khi chưa biết quan tâm đến bà khi còn được ở bên bà.

Câu 2 (trang 149 sgk Ngữ văn lớp 12 Tập 1):

* Tình cảm của tác giả đối với bà được thể hiện qua những câu thơ:

– Nguyễn Duy tái hiện xúc động hình ảnh người bà yêu quý:

+ Bà âm thầm vượt qua mọi cơ cực, buôn bán ngược xuôi, chịu mọi hiểm nguy để nuôi dạy người cháu mồ côi và nghịch ngợm giữa cảnh chiến tranh khốc liệt: bà mò cua xúc tép, gánh chè xanh Ba Trại, thập thững những đêm hàn, bom Mĩ giội nhà bà tôi bay mất, bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn.

+ Bà là một phần của tuổi thơ cháu, thân thương và gắn bó biết bao: níu váy bà đi chợ Bình Lâm, giữa bà tôi và tiên, Phật, thánh, thần.

– Người cháu ân hận vì năm xưa đã vô tâm với bà: tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế, tôi trong suốt giữa hai bờ hư thực, khi tôi biết thương bà thì đã muộn/bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi.

=> Trước người bà giản dị, lam lũ mà tràn đầy tình yêu thương con cháu, tràn đầy nghị lực cao cả, lớn lao, người cháu vừa rất mực yêu quý, trân trọng bà vừa ân hận vì chưa ở bên báo đáp và chăm sóc cho bà.

Câu 3 (trang 149 sgk Ngữ văn lớp 12 Tập 1):

– Cách thể hiện tình thương bà của tác giả đặc biệt vì gắn với cảm hứng tự nhận thức lại của một người đã qua nhiều trải nghiệm và nhận ra mình đã bỏ qua rất nhiều những giá trị bình dị nhưng quan trọng trong cuộc đời.

– So sánh hình ảnh người bà trong “Đò Lèn” của Nguyễn Duy và “Bếp lửa” của Bằng Việt:

+ Người bà trong bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt mang tầm vóc của hậu phương trong những tháng năm chống Mỹ cứu nước, người giữ và truyền lửa yêu thương và căm thù, được tác giả gợi nhớ qua hình ảnh của tiếng chim tu hú, bên bếp lửa bập bùng.

+ Người bà của Nguyễn Duy là nạn nhân của cuộc chiến, mang thân phận bé nhỏ. Dù vậy, giữa cuộc chiến tranh khốc liệt, bà vẫn tần tảo can trường. Hình ảnh người bà trong tác phẩm Đò lèn của Nguyễn Duy hiện lên qua những hình ảnh giản dị, gần gũi đời thường “mò cua xúc tép”…

B. Tóm tắt những nội dung chính khi soạn bài Đò Lèn:

I. Tác giả

1. Cuộc đời

– Nguyễn Duy tên khai sinh là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh năm 1948.

– Quê quán: xã Đông Vệ – thị xã Thanh Hóa (nay là thành phố Thanh Hóa) – tỉnh Thanh Hóa.

– Mẹ mất sớm, Nguyễn Duy ở với bà ngoại từ nhỏ, chính vì vậy bà ngoại là người gần gũi, thân thuộc nhất với ông.

– Năm 1966, ông nhập ngũ.

– Từ năm 1971-1975, vẫn đang khoác áo lính, Nguyễn Duy về học tại khoa Ngữ văn, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.

– Cuối năm 1975, ông cùng đơn vị vào tiếp quản Vũng Tàu.

– Năm 1976, Nguyễn Duy vào sống và công tác tại thành phố Hồ Chí Minh, là biên tập viên báo Văn nghệ Giải phóng, rồi làm Trưởng đại diện của báo Văn nghệ ở phía Nam.

Soạn bài Đò Lèn hay, ngắn gọn (ảnh 1)

2. Sự nghiệp văn học

a. Tác phẩm chính

+ Thơ: Cát trắng (1973), Ánh trăng (1984), Đãi cát tìm vàng (1987), Mẹ và em (1987),…

+ Tiểu thuyết: Khoảng cách (1986),…

+ Bút kí: Nhìn ra bể rộng trời cao (1986),..

b. Phong cách nghệ thuật

– Thơ Nguyễn Duy có sự kết hợp hài hòa giữa cái duyên dáng, trữ tình với chất thế sự đậm đặc, nhiều bài là tiếng nói khảng khái, bộc trực, đầy ngang tàn mà trầm tĩnh, giàu chiêm nghiệm và mang tinh thần công dân sâu sắc.

– Ông là một trong số không nhiều cây bút hiện nay đã góp phần làm mới thể lục bát bằng những tìm tòi theo hướng hiện đại, tạo nên nét độc đáo, hấp dẫn trong cấu trúc, hình ảnh và ngôn ngữ của thể thơ truyền thống này.

II. Tác phẩm

1. Hoàn cảnh ra đời, xuất xứ:

– Bài Đò Lèn được viết năm 1983, trong một dịp nhà thơ trở về quê hương, sống với những hồi ức đan xen nhiều buồn vui thời thơ ấu.

2. Bố cục:

– Phần 1 (5 khổ đầu): Người cháu nhớ lại hình ảnh tảo tần, lam lũ của bà.

– Phần 2 (còn lại): Sự thức tỉnh muộn màng của người cháu.

Soạn bài Đò Lèn hay, ngắn gọn (ảnh 1)

3. Thể thơ: 8 chữ

4. Giá trị nội dung:

– Đò Lèn gợi lên những kí ức đẹp về thời thơ ấu và hình ảnh người bà tảo tần, bày tỏ tấm lòng yêu quý, kính trọng rất mực của người cháu đối với người bà đã mất.

– Là sự ân hận muộn màng của người cháu về thời thơ ấu vô tư, vô tâm, sống bằng ảo tưởng đẹp mà không thấu hiểu cuộc sống cơ cực của bà.

5. Giá trị nghệ thuật:

– Có sự hòa quyện giữa tính cách dân gian và phong vị cổ điển.

– Hình ảnh giản dị và gần gũi với cuộc sống đời thường, chất hóm hỉnh dân gian.

Xem thêm các bài soạn Ngữ văn 12 hay, chi tiết khác:

Thực hành một số phép tu từ cú pháp

Sóng

Luyện tập vận dụng kết hợp các phương thức biểu đạt trong bài văn nghị luận

Đàn ghi ta của Lor-ca

Bác ơi!

Đăng bởi: THCS Bình Chánh

Chuyên mục: Soạn văn 12

Rate this post

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *